Giới thiệu Văn hóa & Ẩm thực Việt Nam ! -->

Latest Post

Huong pagoda
Hàng năm cứ mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp bốn phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương, hành trình về một miền đất phật. Nơi trác tích Bồ Tát Quán Thế Âm ứng thiện tu hành, để dâng lên người một nén tâm hương, một lời nguyện cầu, hoặc thả hồn mình bay bổng hòa quyện với thiên nhiên, ở một vùng miền còn in dấu tích phật thoại và văn hóa tâm linh.
Hội Chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Chùa Hương đã được Bộ Văn hoá (nay là Bộ văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích Quốc gia ngày 8 tháng 4 năm 1962 tại Quyết định số 313 VH/VP. Nhân dân xã Hương Sơn và du khách thập phương khi trẩy hội thường gọi với cái tên dân dã là đi chùa Hương, bởi theo “Truyện Phật Bà chùa Hương” thì nơi đây là nơi tu trì và trác tích của đức Phật Quán Thế Âm Bồ Tát đã được Việt hoá và danh xưng là Phật Bà chùa Hương, nghĩa là: Dấu vết thơm tho.
Ngày mùng 6 tháng giêng hàng năm là ngày khai hội Chùa Hương, ngày này vốn là ngày mở cửa rừng, của người dân địa phương sau này trở thành ngày khai hội.  Lễ hội kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch.
Chùa Hương là một danh thắng nổi tiếng, không chỉ bởi cảnh đẹp mà nó còn  là một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng đạo phật của người dân Việt Nam. Không giống bất kỳ nơi nào, Chùa Hương là  một tập hợp nhiều đền chùa hang động gắn  liền với núi rừng, và trở thành một quần thể thắng cảnh rộng lớn, với một kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và nhân tạo. Tạo hóa đã khéo bày đặt cho nơi đây núi non sông nước hiền hòa và rồi con người đã thổi hồn vào những điều kỳ diệu đó nó trở lên lung linh, sinh động và nhiều màu sắc. Chính điều đó đã tạo nên một nét văn hóa của dân tộc, đó là nét văn hóa tín ngưỡng đạo phật. Có lẽ đã trải qua nhiều thế kỷ,  nét văn hoá đã in đậm vào trong tâm thức của mỗi con người Việt Nam ta khi đến với Chùa Hương, để rồi những tao nhân mặc khách hàng năm lại nô nức về đây với mong muốn được thắp một nén tâm hương, để thoả ước nguyện của mình. Trước một danh thắng như vậy các vị Vua Chúa và các vị nho nhã đã không tiếc lời thán phục. Năm 1770 khi Chúa Trịnh  Sâm tuần thú Hương Sơn có đề khắc năm chữ lên cửa động Hương Tích “Nam Thiên Đệ Nhất Động ”  (Động Đẹp Nhất Trời Nam), kỳ sơn tú thủy” (núi non đẹp lạ) và còn rất nhiều những thi nhân tới đây đã đề bút như: Chu Mạnh Trinh, Cao Bá Quát, Xuân Diệu. Chế Lan Viên, Hồ Xuân Hương.....
Chùa Hương không chỉ còn là giá trị một vùng miền, mà là di tích của quốc gia cũng là giá trị văn hóa tâm linh của một dân tộc, vì nó là giá trị sống của chuỗi phát triển văn hóa tín ngưỡng đạo phật  của người dân Việt từ xa xưa cho tới ngày nay.
Chùa Hương cách trung tâm thủ đô 62 km về phía tây nam,thuộc địa bàn,  xã Hương Sơn- huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Hương Sơn đựợc biết đến với địa danh nổi tiếng về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
- Từ Hà Nội về Hà Đông tới Ba La quý khách đi theo quốc lộ 21B tới thị trấn Tế Tiêu rẽ trái đi khoảng 12 km thì tới địa phận chùa Hương. 
- Quý khách từ phía Nam đi ra, tới thành phố Phủ Lý thuộc địa phận tỉnh Hà Nam, qua cầu Phủ Lý rồi rẽ trái, đi tới Thị trấn Quế sau tới khu vực Chợ Dầu  qua khhu vực chợ Dầu rẽ trái đi khoảng 4 km tới địa phận Chùa Hương.
Các tuyến tham quan.
Căn cứ theo sự phân bố các điểm di tích thắng cảnh, hình thành nên 3 tuyến tham quan.
  • Tuyến thứ nhất: Tuyến chính - Tuyến hương Tích
Đền Trình – Chùa Thiên Trù – Động Tiên Sơn – Chùa Giải  Oan - Đền Cửa Võng -
Động Hương Tích – Động Hinh Bồng – Động Đại Binh
  • Tuyến thứ hai: Tuyến Thanh Sơn Hương Đài
Hang Sơn Thuỷ Hữu Tình - Chùa Thanh Sơn – Động Hương Đài - Chùa Long Vân  Động Long Vân – Chuà Cây Khế
  • Tuyến thứ ba: Tuyến Tuyết Sơn
Đền Trình Chùa Tuyết Sơn – Chùa Bảo Đài - Động Ngọc Long – Chùa Cá
Trước ngày mở hội một ngày, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi ngút, không khí lễ hội bao trùm cả xã Hương Sơn. Mở đầu đội múa Lân sẽ múa một màn chào mừng du khách và các Phật tử từ khắp nơi.
Lễ thực hiện rất đơn giản, có nghiêng về "thiền". Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị sơn thần thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo. Đền Cửa Võng là "chân long linh từ" thờ bà chúa Thượng Nàn, là người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh với cái tên là "tì nữ tuý Hồng" của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần.
Chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ. Trong lúc chạy đàn, hai vị tăng ni múa rất dẻo và đẹp mắt. Từ ngày mở hội cho đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng kinh chừng nửa giờ tại các chùa, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ đứt.
Nét thanh tịnh của miền đất Phật đã tạo cho con người, cảnh vật hòa lẫn vào không gian khi vào hội, Đường vào chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền, cộng thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào nơi tiên cõi Phật. Con người được hòa nhập vào núi vãn cảnh chùa chiền và bắt đầu hành trình mới - hành trình leo núi. Leo núi chơi hang, chơi động. Cuộc leo núi tạo ra trong con người tâm lý kỳ vọng, muốn vươn lên đến cái đẹp. Và sự kỳ vọng cái đẹp hẳn sẽ làm cho con người thêm phần sảng khoái tin yêu cuộc đời này hơn. Ðường núi từ chùa Ngoài vào chùa Trong lúc nào cũng tấp nập.

Phủ Dầy
Lễ hội Phủ Dầy theo quan điểm của dân gian là việc về lễ Mẫu (Tức Thánh Mẫu Liễu Hạnh), về với quê hưong sinh ra Công Chúa Liễu Hạnh - Người được tôn vinh là Mẫu Nghi Thiên Hạ là một trong Tứ Bất Tử Việt Nam.

Tháng tám giỗ Cha
Tháng ba giỗ Mẹ

Mẹ ở đây tức là Mẫu, về với hội Phủ Dầy tức là về lễ Mẫu, về nơi quê hương dòng họ sinh ra Thánh Mẫu.

Phủ Dầy là nơi Thánh Mẫu giáng sinh, là quê hương lại có âm phần của Thánh Mẫu và Tổ Tiên sinh ra thánh Mẫu. Phủ Dầy là một quần thể các đền phủ và chùa đã được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia được đông đảo các du khách về thăm quan chiêm bái, và dự các trò chơi dân gian

Trước kia hội được mở chính thức 10 ngày từ ngày 1 đến ngày 10 tháng 3 âm lịch

Ngày mồng 1 hai thôn Tiên Hương và Vân Cát tế cáo mở cửa phủ người ta gọi là tế khai hội, ngày mồng 2 Tiên Hương rước nước ở Giếng về “ mộc dục ” Thánh tượng, sau đó làm lễ bái yết cáo.

Ngày mồng 3 là chức quốc tế long trọng , chủ tế thường là quan tổng đốc Nam Định hoặc quan lại triều đình. Ngoài ra còn có các quan chức hàng tỉnh, hàng huyện và các quan chức tổng xã, tiếp sau là các thủ nhang đồng cựu, đồng tân, con nhang đệ tử và nhân dân

Lễ vật thường có bánh dầy, lợn sống, xôi, rượu, hoa quả và theo văn bia tại Phủ Tiên Hương thì chính tế mồng ba tháng ba lễ vật còn có một con bò, hai mâm xôi, một buồng cau, hai vò rượu còn nhân gian thì tuỳ tâm hương hoa, oản quả..

Hiện nay vẫn còn một số văn bia ghi lại việc chuẩn bị cho lễ hội thật chu đáo như sau:
“ Biển hội phụng điền bi ” làm năm 1834 nói việc hội thuỷ quân cúng vào Phủ Tiên hương lo cho ngày hội 1 mẫu 6 sào ruộng.

Bia Tự Đức thứ 14 (1861) nói việc đội “ vệ trung thuỷ ” ( làm việc ngoài biển ) nhờ Mẫu che chở, cúng ruộng lo cho ngày hội. Ngoài ra còn một số văn bia khác cũng ghi việc phụng sự cho hội Mẫu và hội chợ Viềng xuân.

Ngày mồng 4 chính giỗ ở Phủ Vân Cát các quan chức triều đình huyện tổng xã và con nhang đệ tử cùng nhân dân đều túc trực tế lễ chu đáo theo nghi thức long trọng.

Ngày mồng 5 Phủ Vân Cát rước Thánh Mẫu lên Chùa Dần (Vân Tháp Tự) ở xã Trung Thành lễ Phật rồi rước về.

Ngày Mồng 6 Phủ Tiên Hương rước Thánh Mẫu xuống chùa Gôi (Tiên Sơn Tự), nhưng gần đây rước lên chùa Báng (chùa Linh Sơn).

Nghi thức rước Thánh Mẫu trong lễ hội Phủ Dầy như sau:

Đi đầu là hoà thượng cùng 2 vị sư niệm kinh phật vừa lần tràng hạt, tiếp theo là 4 kiệu Mẫu, phu kiệu mặc đồng phục, đầu quấn khăn, chân quấn xà cạp, có dây thắt ngang lưng. Kiệu Mẫu Đệ Nhất phủ khăn màu đỏ, Mẫu Đệ Nhị màu xanh, Mẫu Đệ Tam màu trắng thì phu kiệu cũng mặc theo màu như vậy nên trông rất trang nghiêm và đẹp mắt

Sau đó đến đội ngũ quan chức, già làng nhân dân với tư thế nghiêm chỉnh. Trong đám rước đan sen với kiệu còn có đội hình vác nghi trượng, đội hình con nhang đệ tử, thanh đồng mặc khăn áo chầu với đủ màu sắc đủ hình thức theo các giá hầu bóng…Theo sau là hàng dài có các đội đeo mặt nạ. phường bát âm, múa roi…Đặc biệt là có hội múa rồng bay với độ dài hàng trăm mét…khiến cho lễ hội thật sôi động náo nhiệt nhưng không kém phần oai nghiêm.

Hội Phủ Dầy còn có “ Kéo Chũ ” còn gọi là hội hoa trượng vào các ngày 7,8,9 tháng ba thật đẹp mắt và khác biệt so với các hội khác.

Hoa trượng là gậy hoa, có trên 300 năm nguyên nhân do việc dân làng Thiên Bản đang lúc khó khăn nghèo túng phải đi đắp đê ở kinh thành, nhờ bà chúa quê làng Bảo Ngũ huyện Thiên Bản là Trịnh Thái Phi lập kế xin với chúa Trịnh miễn phu dịch cho dân Thiên Bản, nên dân làng kéo về tạ quan bà, Thái Phi Họ Ngô Thị Ngọc Đài bảo mọi người về tạ ơn Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vì nhờ Mẫu Liễu Hạnh nên bà mới có địa vị cao sang nên mới giúp được dân làng. Trên đường về quê dân làng mang thuổng, mai cuốc kéo vào sân phủ tạ ơn Thánh Mẫu và xếp thành chữ “ Thánh Cung vạn tuế ” rồi cúi lạy trước sân phủ để tỏ lòng thành kính. Biết chuyện đó Thái Phi khuyên mọi người dùng gậy cuốn giấy và có ngù hoa ở đầu gậy cho đẹp và nghiêm trang hơn. Do vậy mà hàng năm có lễ kéo chữ ở hội Phủ Dầy.

Việc tổ chức hội hoa trượng không phải là đơn giản, cần phải chuẩn bị vài ba trăm người phân chia thành 4 hay 8 đội (các đội còn gọi là dây) mỗi đội phân tổng cờ và đốc cờ. Tổng cờ mặc kiểu võ quan cầm cờ suý, đốc cờ cầm trống tiểu. Quân mặc áo vàng thắt lưng đỏ, chân quấn xà cạp, gậy hoa dài 4m, cuốn giấy màu, đầu gậy treo “ngù” bằng tơ dứa nhuộm màu trông đẹp mắt

Chỉ huy kéo chữ còn phải có trống cái, trống tiểu ra hiệu lệnh để tổng cờ đốc cờ kéo quân, quân theo nhịp trống. Các dây theo sự chỉ đạo của tổng cờ mà tiến lui ra vào tạo thành chữ, rồi ngồi thụp xuống tạo thành nét chữ, gậy hoa ngả theo chiều thành nền chữ. Ban giám khảo chấm điểm song, ban lệnh bài thu quân chạy theo nhịp trống ra ngoài sân tiếp tục xếp chữ khác. Chữ kéo mỗi năm được các cụ trong làng lựa chọn kĩ lưỡng và chu đáo. Có thể dùng chữ “Thánh Cung Vạn Tuế”, “Mẫu Nghi Thiên Hạ”, “Quốc Thái Dân An”, “Thiên Hạ Thái Bình”. ..

Kéo chữ là hội cổ truyền mang tính nhân văn sâu sắc, nhưng khi thực hiện cần huy động nhiều nhân lực, càng làm cho ngày hội đã đông người lại càng thêm náo nhiệt hoành tráng.

Văn bia niên hiệu Khải Định thứ 10 (1926) có ghi như sau:

“Theo lệ thì hàng năm vào tháng Ba, 12 tổng trong huyện là Phú Lão Vụ Bản, La Xá, Hiển Khánh, Đồng Đội, Vân Côi, Bảo Ngũ, An Cự”, Trình Xuyên Thượng, Trình Xuyên Hạ, Hào Kiệt, Hổ Sơn đều phải tham gia kéo chữ. Sáu tổng miền Thượng kéo chữ ở Tiên Hương vào ngày mùng 7, còn sáu tổng miền Hạ kéo chữ ở Vân Cát vào ngày mùng 8. Lý dịch ở các địa phương phải lo phu hội và gậy hoa rồi rước về Tiên Hương- Vân Cát…”

Việc tổ chức hội ở cả hai địa điểm Vân Cát và Tiên Hương là vì nguyên khi xưa hai thôn cùng chung một làng, sau mới chia làm hai thôn nên văn bia Khải Định lần thứ 6 (1931) ghi việc cả huyện Vụ Bản tiến cúng tiền, ruộng.

“Vân Cát Thần Nữ là một trong sáu sự lạ ở đất Thiên Bản. Thần có ba độ sinh hoá, các triều phong tặng là em Trời, là các mẹ, là Thánh, là Thần, là Tiên, là Phật…Hàng năm cứ đến mùa Xuân tháng Giêng, hàng hoá tốt đẹp các nơi hội tụ như chợ Trời, tháng ba có lệ gậy hoa bày chữ như hội quần tiên, Bấy giờ quan lại, tri thức, học trò, trai gái …bốn phương kéo về chiêm ngưỡng vẻ đẹp ước có tới vạn người ở hai đền Vân - Tiên đều thế cả”.

Khi quí khách thập phương về lễ hội còn được chứng kiến một hình thức lễ khá độc đáo là hầu bóng hay còn gọi là lên đồng. Bóng ở đây là bóng Thánh, còn người ngồi để Thánh nhập vào là ghế của Thánh. Thánh là cốt còn ghế là đồng. Ghế ở đây là có căn duyên, có tư duy và sự hoà hợp với Thánh. Ngồi đồng không có sự phân cao thấp, nói rộng ra là không chia đẳng cấp nên có câu : “ngự ghế nào cao ghế ấy”. Nghĩa là đang ngự ghế Cô, Cậu lại có thể vào giá ông Hoàng, bà chúa…

Từng giá đồng không tái hiện lại lai lịch một cách đầy đủ mà chỉ gợi lại một vài hành động liên quan đến vị Thánh đang ngự, vì thế người hát Hầu văn cũng chỉ nêu thoáng qua sự tích còn thì ca ngợi cảnh quan, mây trời sông nước thiên nhiên mà Thánh du ngoạn, nên người chầu quanh ghế hầu cũng được hồi tưởng cảnh đẹp đó đây mà lòng lâng lâng…

Các ghía đồng còn mô phỏng như đang cưỡi ngựa, bắn cung tên, múa kiếm, múa đao, múa quạt, múa mồi lửa, hèo nhạc…là những hình thức vũ điệu dân gian hấp dẫn, dễ hiểu do đồng cảm… Giá hầu đông không tồn tại riêng cho giá đồng mà tồn tại chung cho tất cả mọi người, giá ngự và người chầu quanh đều bình đẳng hoà nhập thân thiện với nhau và người chung quanh được phát lộc như hoa quả, bánh trái, tiền…

Ở hội còn tổ chức thi đấu cờ người, và các hình thức như thi hát hầu văn, thả đèn trời vào ban đêm, hay hát chèo…Ngoài các hình thức văn hoá tinh thần du khách còn có thể mua những đặc sản của các địa phương trong cả nước như bánh nhãn, bánh gai. kẹo lạc, bánh cốm, bánh cáy…

lễ hộiHàng năm, có lẽ không có làng quê Việt Nam nào lại không mở hội, nhỏ thì một ngày, lớn thì nhiều ngày, nhất là những năm được mùa thì lễ hội vui không kể xiết. Có những lễ hội trở nên tiêu biểu, nức tiếng gần xa như hội: Đền Hùng-tỉnh Phú Thọ, hội Cổ Loa, Lệ Mật, Phù Đổng của Hà Nội, hội Liễu Đôi (Nam Hà), Bắc Ninh có hội Đồng Kỵ, hội Lim... Bắc Giang có hội Yên Thế, Xương Giang, Thổ Hà, Vạn Vân, các hội làng ở Hà Tây, Hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương), hội chùa Dâu, Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), hội chùa Keo (Thái Bình) và hội đua ghe ngo của đồng bào Khơme Nam Bộ, hội vùng núi Sam (Châu Đốc - An Giang)...
Lễ hội ở nước ta thường được tổ chức vào mùa xuân, khi đất trời giao hòa, thiên nhiên tươi tốt, lòng người hân hoan. Lễ hội là chứng tỏ tính cố kết của cộng đồng, là minh chứng cho nét đẹp văn hoá ngàn đời của ông cha ta. Theo thống kê của Bộ VH,TT&DL thì nước ta hiện có hơn 8.000 lễ hội trong năm. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế... Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân.
Phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớ người có công với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các trò vui chơi ở lễ hội thường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như: thi bắn nỏ, đấu vật (hội Cổ Loa) đấu vật, đấu võ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam Định), thi bắn nỏ, ném còn (ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc) v.v... Có lễ hội lại gọi theo những trò chơi dân gian như hội rước voi, rước chúa gái, hội đánh phết, ném còn, hội chọi gà, chọi trâu, hội đâm đuống... Sự phong phú của lễ hội ở Việt Nam vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc nhưng cũng vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
Quy trình của lễ hội
Thông thường địa phương nào mở hội cũng đều tiến hành theo ba bước sau:
Chuẩn bị: Chuẩn bị lễ hội được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn chuẩn bị cho mùa lễ hội sau và khi ngày hội đã đến gần. Chuẩn bị cho mùa lễ hội sau được tiến hành ngay sau khi mùa hội trước kết thúc, mọi khâu chuẩn bị đã có sự phân công, cắt cử mọi việc để đón mùa lễ hội năm sau. Khi ngày hội sắp diễn ra, công việc kiểm tra lại đồ tế lễ, trang phục, quét dọn, mở cửa di tích, rước nước làm lễ tắm tượng (mộc dục) cùng các đồ tế tự, thay trang phục mũ cho thần...
Vào hội: nhiều hoạt động diễn ra trong các ngày lễ hội, đó là các nghi thức tế lễ, lễ rước, dâng hương, tổ chức các trò vui. Đây là toàn bộ những hoạt động chính có ý nghĩa nhất của một lễ hội. Lễ hội thu hút nhiều đối tượng hay ít khách đến với lễ hội, diễn ra trong nhiều ngày hay một ngày hoàn toàn chi phối bởi các hoạt động trong những ngày này.
Kết thúc hội (xuất tịch, giã đám, giã hội): Ban tổ chức làm lễ tạ, đóng cửa di tích.
Thời gian mở hội
Lễ hội ở Việt Nam được tổ chức nhiều nhất vào ba tháng mùa xuân và mùa thu. Hai khoảng thời gian trên là lúc người dân nhàn rỗi. Mùa xuân tiết trời ấm áp, mùa thu tiết trời mát mẻ, đều thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội. Hai yếu tố cơ bản tạo nên sự thoải mái, vui vẻ cho người đi dự hội.
Một số đặc điểm của lễ hội
Tính thiêng
Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý do mang tính "thiêng" nào đó. Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã xuống mảnh đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ. Đó là nơi một người anh hùng bỗng dưng hiển thánh, bay về trời. Cũng có khi đó chỉ là một bờ sông, nơi có một xác người chết đuối, đang trôi bỗng nhiên dừng lại, không trôi nữa; dân vớt lên, chôn cất, thờ phụng... Cũng có khi lễ hội chỉ hình thành nhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có người đào mương, có người trị thủy, có người đánh giặc... ). Song, những người đó bao giờ cũng được "thiêng hóa" và đã trở thành "Thần thánh" trong tâm trí của người dân.
Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ có thể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa bệnh, làm nghề, sản xuất, đánh giặc... mà còn có thể giúp họ vượt qua những khó khăn đa dạng hơn, phức tạp hơn của đời sống.
Chính tính "Thiêng" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trong những thời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến.
Tính "cộng đồng"
Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự nguyện của một cộng đồng. Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn. Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước.
Tính địa phương
Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định. Bởi thế lễ hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó. Tính địa phương của lễ hội chính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội dung lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa. Phong cách đó thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng...
Tính cung đình
Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần linh trong các lễ hội của người Việt, là các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa. Bởi thế những nghi thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu... đều mô phỏng sinh hoạt cung đình. Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục, động tác đi lại... Điều này làm cho lễ hội trở nên trang trọng hơn, lộng lẫy hơn. Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho người tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, những khao khát nguyện vọng của người dân.
Tính đương đại
Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại. Những trò chơi mới, những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete, video, tăng âm, micro... đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới.
Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyện của nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùy tiện, vô lý...
Nghệ thuật diễn xướng
Có thể nói rằng, toàn bộ lễ hội là một sân khấu đặc biệt. Tại sân khấu này, có ba nhân vật chính. Một nhân vật là ông Thầy cúng (Thầy Đồng đền ở Đền, Ông chủ tế ở đình...) người có khả năng thông qua các Thần linh, sự nhập vai của các Thần linh (các hiện tượng lên đồng). Nhân vật thứ hai là quần chúng nhân dân, những tín đồ của tôn giáo hay tín ngưỡng, những người đã có sẵn những cảm xúc tôn giáo, tín ngưỡng nhạy bén, sẵn sàng tham gia, nhập cuộc vào cuộc trình diễn này. Nhân vật thứ ba tuy không xuất hiện trên sân khấu, nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong Lễ hội, chính nhân vật này tạo ra cảm hứng xuyên suốt cuộc Lễ hội, là động lực của Lễ hội. Đó là các Thần linh, đối tượng thờ cúng của các Lễ hội.
Trong các lễ Hầu đồng, lên đồng là một nghi thức đặc biệt. Trong đó, người lên đồng được các Thần linh "nhập" vào. Khi đó, những người lên đồng không còn giữ nguyên bản thân, mà trở thành những nhân vật Thần linh được quy định là phù hợp với họ (hợp "căn"). Người lên đồng múa, hát và nói năng hệt như tính cách các vị thần nhập vào họ, theo quan niệm dân gian. Người nhập vai vào vai cô bé Thượng Ngàn, nhí nhảnh, ưa làm dáng, hát theo những làn điệu miền núi. Người nhập vai ông Hoàng Bảy, một võ tướng có nét mặt oai vệ, có giọng nói cương nghị, múa kiếm. Còn Ông Hoàng Mười, một ông quan lớn, hào hoa phong nhã, đĩnh đạc, giọng nói sang sảng, thường mang theo bầu rượu túi thơ và múa với cây hèo thúc ngựa...
Nghệ thuật tạo hình và trang trí
Nghệ thuật tạo hình và trang trí tồn tại trong Lễ hội như một yếu tố tất yếu. Cờ hội với năm sắc ngũ hành - năm màu tương ứng với năm yếu tố cơ bản của vũ trụ theo quan niệm triết học cổ sơ, đặt cạnh nhau rất tương phản, gây sự chú ý. Các loại kiệu sơn son thếp vàng lộng lẫy, chạm trổ tinh vi. Tượng gỗ với cách tạo hình dân gian và truyền thống. Và, trong ngày hội làng, các đội tế với cách ăn mặc đặc biệt, đã gây ấn tượng đối với người dự hội. Thực ra, trang phục của đội tế, từ chủ tế đến các thành viên của đội, là sự mô phỏng sắc phục của quan lại khi lâm triều. Đó cũng là yếu tố tâm lý hấp dẫn đối với những người trong đội tế. Dường như trong trang phục đó, họ cảm thấy một vinh dự đặc biệt dành cho họ và họ được đứng ở một vị trí khác hẳn ngày thường. ở các Đền phủ, nghệ thuật trang trí đặc biệt được coi trọng. Màu sắc và các đồ trang sức của người lên đồng chính là yếu tố quan trọng để phân biệt các giá đồng. Nếu Cô Bé Thượng Ngàn chỉ dùng trang phục sắc xanh (miền núi) với các loại trang sức như vòng bạc, hoa tai thường được đồng bào các dân tộc thiểu số ưa dùng thì Ông Hoàng Mười, một vị quan văn hào hoa, phong nhã, lại ăn mặc kiểu quan văn...
Cách bài trí Điện thờ cũng đặc biệt. Khác với chùa chiền thường trang trí giản dị, gợi cảnh thú nhàn, xa lánh thế tục, các đền phủ ưa trang hoàng lộng lẫy, rực rỡ gần với cảnh lộng lẫy của các cung điện thế tục. Trong điện thờ, các vị Thánh được thờ ở một vị trí riêng, vừa phù hợp với thứ bậc của họ trong hệ thống Thần linh của Đạo Mẫu, vừa phù hợp với tính cách của các vị theo quan niệm truyền thống.
Nghệ thuật âm nhạc, ca hát và múa
Trong lễ hội có diễn ca, trống chiêng và múa. Có thể suy đoán, các điệu múa cờ, múa chiêng, múa trống.
Âm nhạc, ca hát và múa không chỉ xuất hiện ở phần hội. Ngay ở phần lễ, các loại nghệ thuật biểu diễn này đã có mặt như một yếu tố không thể thiếu được, và ở một số lễ hội, các loại hình nghệ thuật này đã chiếm vai trò chủ đạo. Chẳng hạn, ở huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, có một loại sinh hoạt ca hát đã trở thành ngày hội làng. Đó là hội Dô, với loại hát Dô độc đáo. Với các quy định chặt chẽ về lề lối sinh hoạt, hát Dô là một hình thức hát thờ, hát nghi lễ được tổ chức khá quy củ với các làn điệu, bài bản phong phú. Loại hình hát nghi lễ còn khá phổ biến trên khắp địa bàn vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Có thể tạm kể ra đây một vài ví dụ về sự tham gia của các nghệ thuật ca múa nhạc và lễ thức:
Hội trong chùa: Về nghệ thuật ca hát, có các loại hình: đọc, tụng, canh, kệ, vãn... Trong đó riêng thể loại canh đã có hàng trăm bài bản, hình thức. Về âm nhạc có chuông, khách, mõ (đá hoặc gỗ đồng).
Hội làng: Về nghệ thật ca hát, có các loại hình: đọc văn tế. Về âm nhạc, có chuông, đàn bát âm (phục vụ cho tế). Về múa, có tế, múa Lân, múa Rồng (rước kiệu). Đặc biệt, ở Triều Khúc, trong hội làng, múa tham gia vào ngay trong lúc hành lễ với các điệu múa "Con đĩ đánh bồng", "Múa cờ"...
Lễ Hầu Đồng (lễ đền): Về nghệ thuật ca hát, có loại hát Chầu văn (có hát văn thờ) tham gia vào quá trình hành lễ, hát văn hầu đồng, phục vụ cho các giá đồng. Về múa, có các loại hình múa lên đồng. Về âm nhạc, có đàn nguyệt, trống chầu, sênh tiền...
Về thành phần, ca múa nhạc trong Lễ hội truyền thống Việt Nam bao gồm 2 phần chính: Nhạc nghi lễ, và các tổ hợp ca múa.
Nhạc nghi lễ
1. Nhạc thờ cúng (trong gia đình, chùa, điện, miếu) gồm ba loại sau đây: nhạc tế, nhạc nhà chùa và nhạc điện miếu.
Trong khi làng mở hội, ngoài sân đình có ca hát, vui chơi giải trí, đối đáp giao duyên như hát ví, hát đúm, hát trống quân, quan họ... thì trong đình có tế thần.
Trong khi tế có dâng trà, dâng rượu, đọc văn tế đều có nhạc bát âm phụ họa cùng với chiêng trống. Hiện nay tại Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ, phổ biến một số bài bản chính cho nhạc bát âm gồm: Lưu Thủy, Ngũ Đối, Kim Tiền...
Trong dàn nhạc bát âm phục vụ cho tế thần, tiếng Kèn dăm (Kèn bóp) chủ động dẫn nhịp, có tác dụng khá lớn. Bài bản cũng tùy từng địa phương chế tác sử dụng. Nhưng cần phân biệt rõ Kèn dăm trong dàn nhạc bát âm Tế Thần khác hẳn thứ kèn bóp "Già nam" trong phường nhạc hiếu (nhạc tang ma) và nhất là phi phân biệt với loại kèn bóp "so na" phục vụ cho Nhạc tuồng
Hiện nay, nhiều nơi dàn nhạc tế đã có vai trò rất quan trọng, như ở Lệ Mật, Việt Hưng (Gia Lâm, Hà Nội), đội nhạc bát âm còn xếp đội hình thành các chữ "Thượng công lưu nhất" rất độc đáo, lại tăng thêm phần ngoạn mục và tinh tế xen kẽ các tuần tế. Tại Triều Khúc (Thanh Trì, Hà Nội), dàn nhạc tế còn phục vụ cho múa Bồng truyền thống. Vai trò của dàn nhạc bát âm quán xuyến suốt từ đầu tới cuối buổi tế thần, kết hợp với các tuần đổ hồi chiêng trống.
Trong khi niệm kinh thờ phật, không có ca nhạc, chỉ dùng chiêng mõ điểm xuyết trong các câu kinh kệ. Chỉ tới khi lập đàn chay, chạy đàn... nhà chùa mới sử dụng toàn thể bộ gõ gồm: trống cái, trống la, thanh la, tiu bộc, với tiết tấu ồn ào sôi động gây không khí náo nhiệt, thành kính cho những người dự lễ, cuốn khúc theo sư tổ chạy đàn. Trong chùa thờ phật lúc nào cũng cần sự yên tĩnh, trầm tư mặc tưởng nên từ trước tới nay, ngoài chuông mõ không dùng nhạc khí nào khác.
Các Điện thường thờ thần. Theo quan niệm tín ngưỡng dân gian, thế gian chia làm ba giới: Thiên đình, Âm Phủ và Thủy Phủ. Các vị thần chấn thủ ba nơi này mang các danh hiệu Tứ Đại Thiên Vương, Nhị Thập Bát Tú, Thập Tam Hoàng Thái Tử, Ngũ Vị Vương Quan...Các vị đó có nhiệm vụ che trở cho loài người chống hạng yêu quái quấy nhiễu dương gian. Nhưng muốn đạt tới các vị đó, người đời phải mượn trung gian là các Đạo sỹ, Phù thủy, ông Đồng Bà Cốt. Rồi từ việc mượn người trung gian để cầu xin các vị Thần linh phù hộ che chở cho đến việc tự nhận mình là "Con công đệ tử". Từ đó đã hình thành một loại tín ngưỡng rất phức tạp, trong đó ca nhạc đóng vai trò quan trọng, đó là hát chầu văn. Giai điệu Hát văn mượt mà, hấp dẫn. Nhịp điệu dồn dập, khỏe mạnh vui tươi. Tới cao trào, bóng thường hay múa gươm hoặc bơi thuyền. Cung văn phi chuyển sang "nhịp một" sôi nổi kích động. Trống thanh la gõ rộn ràng và "Hòa khoan" theo làn điệu "Chèo đò" phù hợp với động tác chèo thuyền của bóng.
2. Nhạc rước:
Tiếng trống rước vang rất xa làm náo nức lòng người, thúc dục tới xem hội. Bộ trống rước gồm một trống cái do hai người khiêng và bộ trống con thường gồm 4 hoặc 6 chiếc. Người đánh trống lớn sau khi đổ hồi, đánh dõng dạc từng tiếng một, điểm hòa vào bộ trống con. Người đánh trống con đeo trống qua vai, đánh bằng hai dùi nhỏ theo nhịp bước, theo từng khổ quy định, có trống cái điểm. Rứt khổ trống cái đổ ba tiếng liền. Theo nhịp trống, dàn nhạc bát âm tấu Lưu Thủy- Kim Tiền, có tiếng mõ và sênh tiền hòa theo
Nhịp trống rước khoan thai hơn nhịp tiến của bộ trống quân nhạc: đổ vào nhịp mạnh, rung vào các phần nhịp và nhịp yếu, tiếng trống con kết hợp với tiếng chũm chọe, sênh tiền, tiu, mõ. Tiếng trống cái đệm vào nhịp yếu từng tiếng một và cắt khổ trống.
Dàn nhạc bát âm thường gồm có nhị, hồ, nguyệt, sáo, tiêu, mõ, sênh tiền, tiu bộc và có dùng kèn dăm (kèn bóp). Gần đây còn thêm đàn tứ và đàn tam.
Hát múa
Lúc ở trong đình đang tế thần, ngoài sân đình cũng tổ chức các cuộc thi hát và múa, căn cứ đặc điểm của từng địa phương. Trong hội làng tại các cửa Đình, giáo phường xưa cử các đào và kép đàn trình diễn ca múa nhạc kết hợp với tế Thần và chúc tụng, mua vui giải trí cho dân làng. Tên hát cửa đình xuất hiện. Hát cửa đình vừa là hình thức, vừa là phong cách biểu diễn của đào kép, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ của dân làng trong những ngày hội, ngoài việc phục vụ nghi lễ. Hát Cửa Đình thường kéo dài cả ngày, cả đêm, có khi kéo dài suốt mấy ngày liền. Cho nên, để ghi điểm, thường dùng thẻ làm bằng mảnh tre có ghi đấnh dấu, thưởng cho đào kép. Do đó các đào hát Cửa Đình lĩnh thưởng bằng thẻ gọi là hát thẻ (chữ hán đọc thẻ là trù), đọc theo chữ hán là ca trù. Danh từ ca trù bắt nguồn từ hát Thờ ở Cửa Đình. Giáo phường Lỗ Khê (Đông Anh, Hà Nội) là nơi lưu giữ được gần như nguyên vẹn di tích và sinh hoạt của giáo phường xưa, duy trì được nền nếp Hát Cửa Đình.
Ngoài ra còn một số điệu múa hoặc mô tả thành tích Thần Hoàng làng như điệu Múa rắn Lệ Mật cứu Công chúa nhà Lý, sau di dân sang khai hoang phía tây thành Thăng Long, thành lập "Thập tam trại", hoặc một việc luyện quân của Phùng Hưng trước khi về đánh thành Tống Bình, Hà Nội, hoặc chỉ mang cả tính nghệ thuật lẫn động viên giải trí như Múa Bồng, Múa Đèn, Múa Rồng và phổ cập nhất là Múa Sư tử.
Hát văn và Hầu đồng
Hát văn và Hầu đồng là những sinh hoạt mang tính tín ngưỡng và văn hóa của đạo thờ Mẫu của người Việt từ Bắc vào Nam, trong đó có ba trung tâm nổi bật là Hà Nội, Huế, và Sài Gòn. Cũng như các tín ngưỡng và tôn giáo khác, đạo thờ Mẫu cũng hình thành nên hệ thống nghi thức thờ cúng và lễ hội của nó. Dân gian ta có câu: "Tháng tám giỗ Cha, Tháng ba giỗ Mẹ", là để nói hai lần trong năm tiến hành các nghi thức thờ cúng và lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất của đạo thờ Mẫu. Tháng tám là ngày giỗ Vua cha Ngọc Hoàng, Đức Thánh Trần,... Còn tháng ba giỗ Mẹ là Mẫu Liễu Hạnh, và các Thánh Mẫu khác của đạo này.
Trong hai dịp "Xuân thu nhị kỳ" như vậy, một trong những lễ thức quan trọng của lễ hội là Hầu Đồng. Nó được tổ chức ở hầu hết các đền miếu, các Điện Mẫu trong chùa, trong các Điện Mẫu ở một số nhà riêng các Ông đồng và Bà đồng.
Hầu đồng là một lễ thức đặc trưng và tiêu biểu nhất của tín ngưỡng dân gian thờ thánh Mẫu của dân tộc Việt. Lên đồng là hình thức nhập hồn tự nguyện và nhập hồn nhiều lần trong một buổi lễ, trong khung cảnh thờ cúng, âm nhạc và hát tụng, nhằm mục đích chữa bệnh, tẩy trừ rủi ro, mưu cầu phúc lợi và phán truyền về định mệnh của con người. Lễ thức này mang tính chất Saman giáo, một hình thức tôn giáo phổ biến ở nhiều dân tộc trên thế giới từ xa xưa còn tồn tại đến ngày nay.
Trong môi trường tín ngưỡng dân gian kể trên đã hình thành và phát triển một số hình thức diễn xướng Văn hóa - Nghệ thuật dân gian, đó là âm nhạc, hát và múa. Trong hát văn, lời văn rất phong phú, đa dạng, thuộc loại hình các sáng tác văn học dân gian và bước đầu mang tính chất của văn học chuyên nghiệp (một số bài văn chầu, hát văn bước đầu được ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm hay Quốc ngữ...). Văn chầu là những bài tụng ca thuộc thể văn vần, dưới hình thức thơ song thất lục bát hay lục bát, nội dung kể sự tích các Thần linh, nhiều lúc mang tính chất hoang đường quái dị, mà về mặt nào đó, gần gũi với văn học truyền kỳ của Việt Nam.
Bản thân cái hào hùng, huyền diệu, trữ tình của lời văn chầu không thể hấp dẫn và lôi cuốn con người nếu như không đặt nó vào môi trường diễn xướng hài hòa với âm nhạc và nhảy múa. Nhạc chầu văn đã định hình và mang bản sắc riêng, sinh hoạt âm nhạc có quy định, thể thức nghiêm ngặt về cách thức trình diễn. Trong âm nhạc hát văn, có qui tụ khá nhiều các hình thức dân ca, nên nó gần gũi với khá nhiều dân ca ở tiết tấu giai điệu lời ca. Cấu trúc của loại hình âm nhạc này vừa cân đối, hoàn chỉnh trong từng câu văn, từng làn điệu, nhưng mặt khác âm nhạc của nó cơ bản vẫn là cấu trúc mở, nghĩa là giai điệu của nó có thể lặp lại để có thể chứa đựng nội dung lời ca. Hình thức âm nhạc hát văn đến nay vẫn tiếp tục phát triển về bài bản, làn điệu, cách điệu dàn nhạc... Đặc biệt những thập kỷ gần đây, hát văn và âm nhạc hát văn đã có bộ phận dần tách ra thành loại hình âm nhạc và dân ca độc lập, chứa đựng nội dung mới, đáp ứng những nhu cầu thẩm mỹ của con người hiện đại.
Một buổi hầu đồng (ảnh: Sưu tầm)
Hát, âm nhạc kết hợp với múa, thành loại múa Hầu đồng. Đây là hình thức múa tôn giáo mà múa và âm nhạc đã tạo ra sự phấn khích đưa con người hợp nhất với Thần linh, cũng như Thần linh thông qua các động tác nhảy múa của các Ông đồng, Bà đồng mà tái sinh, sống động lại trong con người.
Múa Hầu đồng tiếp thu nhiều hình thức múa dân gian, như múa quạt, múa kiếm, đao, múa cung, múa nồi... nhưng đã cách điệu để phù hợp với môi trường tín ngưỡng. Nhìn tổng quát, diễn xướng Hầu Đồng là một hình thức diễn xướng tổng hợp, một hình thức sân khấu tâm linh. Qua loại hình diễn xướng đặc thù này, người ta đã có thể tìm hiểu những hình thức nguyên sơ của sân khấu dân gian.
Hầu đồng - Hát văn với tính chất là một loại hình sinh hoạt tín ngưỡng- văn hóa cộng đồng, có nguồn gốc phát sinh từ lâu đời, ít nhất cũng từ thời Lý trở lại đây. Trong quá trình nảy sinh và phát triển lâu dài ấy, Hát văn - Hầu đồng đã bị chi phối bởi nhiều khuynh hướng phát triển khác nhau, như lịch sử hóa, địa phương hóa, tích hợp văn hóa, hiện đại hóa...
Xuất phát từ hình thức tín ngưỡng thờ Mẫu thô sơ của cư dân nông nghiệp, trong quá trình phát triển nó chịu ảnh hưởng của nhiều hình thức tín ngưỡng, phương thuật dân gian khác (Saman giáo), đặc biệt là Đạo giáo nam Trung Quốc, để từ đó hình thành nên tín ngưỡng Tam Phủ, Tứ Phủ. Tứ Phủ chịu sự chi phối của khuynh hướng lịch sử hóa, gắn Thần linh của đạo này với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tuy là những Thần linh siêu nhiên, nhưng nó vẫn gần gũi với đời sống con người, giúp con người vượt qua rủi ro, vận hạn, mang lại cho họ tài lộc và sức khỏe, gắn với lịch sử dân tộc, đáp ứng nhu cầu của đời sống tinh thần của người dân, đó là lòng yêu nước - lòng yêu nước đã linh thiêng hóa.
Quê hương ra đời của Hát văn và Hầu đồng là đồng bằng Bắc Bộ. Tuy nhiên, trong quá trình lịch sử, nó theo gót người Việt Nam vào Nam Trung Bộ và Nam Bộ, hình thành những sắc thái địa phương trong Hát văn và Hầu đồng. Sự khác biệt về sắc thái này thể hiện ở hệ thống Thần linh, nghi thức thờ cúng, các hình thức âm nhạc, hát văn và múa...
Khuynh hướng tích hợp văn hóa giữa các dân tộc cũng thể hiện trong hát văn và hầu đồng, tạo nên một trong những nét độc đáo nhất của hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - tôn giáo này. Xuất phát từ việc trong điện thần Tứ Phủ có một số vị thánh là người dân tộc Mường, Tày, Nùng, Dao, Chăm... nhất là các vị thánh hàng Chầu bà, nên khi các Ông đồng, Bà đồng hầu các vị thánh đó, thì từ trang phục đến nội dung văn chầu, các làn điệu bài hát văn, cách thức nhảy múa... đều mang các sắc thái dân tộc. Thông qua hiện tượng tích hợp văn hóa này của tín ngưỡng Tứ Phủ, ta thấy tinh thần bình đẳng, không hề có chút kỳ thị dân tộc.
Trò hội
Có thể chia trò hội thành mấy dạng chính:
Thi phẩm vật. Ví dụ: Thi pháo, thi xôi, thi bánh, hoặc có nơi thi lợn béo, trâu khỏe (trong hội làng).
Thi tài. Ví dụ: Đánh vật, bơi chải, thổi cơm, hát thi, leo cầu tre, đánh cờ, cướp cầu, kéo co, đấu gậy... (trong đó có những nơi có thi tài một số sự việc liên quan tới sự tích Thần. Ví dụ: vừa hành quân, vừa thổi cơm).
Trò góp vui. Những trò này làm tăng không khí nhộn nhịp cho lễ hội. Rất phong phú và đa dạng.
Nhiều trò hội không chỉ là biểu hiện của sự thông minh, tài trí, khéo léo và dũng cảm hoặc tinh thần thượng võ, lòng nhân hay sự yêu đời, nó còn toát lên tính tập thể, tinh thần cố kết cộng đồng và cao hơn nữa còn gắn bó có tính máu thịt khi niềm sùng tín cho rằng sự hay dở của trò hội liên quan đến hạnh phúc của cộng đồng (làng bản) trong năm đó. Trò hội không những nghiêm trang mà còn ẩn chứa sự hồi hộp hệ trọng. Lấy thí dụ, cũng là trò kéo co nhưng ở Thạch Bàn (Gia Lâm, Hà Nội) trong lễ hội của làng, trò này chia làm hai phe, được gọi là mạn đường và mạn chợ, trong đó được xem như phần gốc và phần ngọn, nếu phe phần gốc thắng thì người ta hoan hỉ tin rằng năm đó sẽ đại phúc.
Hội làng cổ truyền người Việt là lễ hội nông nghiệp. Trò chơi là một bộ phận của lễ hội, nên phải phục vụ cho nội dung của lễ hội. Vì vậy những trò chơi này được coi là trò chơi phong tục hay nghi lễ. Chẳng hạn như, những cuộc đua thuyền buổi đầu không phải là hoạt động (hoặc là trò chơi) hướng về tinh thần thượng võ mà để thực hiện một nghi lễ với Thủy Thần: Lễ cầu nước. Chỉ có hai thuyền dự đua được định danh: Một thuyền đực - biểu tượng chim, gắn hình chim ở đầu thuyền; Một thuyền cái - biểu tượng cá, gắn hình cá ở đầu thuyền; Với ý nghĩa đối ứng, giao hòa âm/dương; chim (trên cao)/cá (dưới thấp); khô/ướt và thuyền trôi, mái chèo khuấy động trong nước với mục đích "đánh thức thủy thần" nhắc- hoặc cầu - thần đem nước tới đúng vụ làm mùa (như ở Đào xá, Tam Thanh, Vĩnh Phú).
Như cuộc tung cầu - cướp cầu mà ngày nay ta gọi là trò chơi, cũng có một khởi nguyên nghi lễ cầu mùa nghề nông. Quả cầu bằng gỗ, sơn son, to bằng quả bưởi tượng trưng cho mặt trời (đỏ, tròn), được thờ trong hậu cung. Vào ngày Hội làng, người ta rước cầu trình Thánh rồi tung ra sân cho thanh niên hai giáp tranh cướp trong trò "cướp cầu". Cầu được truyền tay và ném vào hai hố ở hai đầu sân đình theo hướng đông - tây. Vậy là quả cầu bay theo hướng đông tây. Đó là hình ảnh mô phỏng sự vận hành của mặt trời ban ngày (đông - tây) và ban đêm (tây - đông), theo quan niệm cổ của nhân dân. trò chơi phong tục này cốt thực hiện mục đích của lễ cầu ánh sáng trong tục thờ Mặt trời của dân cư nông nghiệp ruộng nước. Đây là trò chơi phổ biến ở Vĩnh Phú, Hà Bắc, Nam Hà...
Ý nghĩa của trò hội:
Thứ nhất, đại diện cho cộng đồng: Những người tham gia thuộc hai bên là đại diện cho hai nhóm xã hội (giáp - cộng đồng nhỏ trong làng). Lúc này trò chơi là việc làm trách nhiệm, nghiêm túc, mang tính thiêng của cộng đồng.
Thứ hai, phản ánh tín ngưỡng cổ: Sùng bái giới tự nhiên (Thần Mặt trời, Mặt trăng) cầu sinh sôi giống loài...
Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn, nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người. Lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc. Họ thờ chung vị thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua gian khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí...
Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực là khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần tự hào dân tộc, ý thức hướng về cội nguồn, hội làng còn tồn tại một số tập quán lạc hậu, những biểu hiện mê tín, những tệ nạn xã hội. Ở một số nơi, lễ hội được tổ chức không phải để tôn vinh các giá trị truyền thống mà để kinh doanh kiếm lời. Họ rào làng, bịt lối, bán vé vào cửa, bán vé vào lễ, gây phiền hà cho người đến lễ hội, trái ngược hẳn với tục mở rộng vòng tay đón bạn mười phương về chung vui hội làng thời xưa. Các tệ nạn mê tín dị đoan như: lên đồng, bói toán, đội bát nhang, uống nước thánh, đốt vàng mã, cúng tế, rước xách linh đình kéo dài ngày càng có chiều hướng gia tǎng. Hơn nữa, trong lễ hội đã bắt đầu xuất hiện các tệ nạn xã hội như: đánh bạc, cá cược, hút thuốc phiện...
Một mùa lễ hội mới đã về trên khắp nẻo làng quê Việt Nam. Chúng ta mong rằng các lễ hội ở Việt Nam vẫn giữ nguyên sức cuốn hút, hấp dẫn của nó, giảm trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội. Bởi lễ hội là tinh hoa văn hóa Việt Nam, các giá trị văn hóa của lễ hội được bảo tồn và phát huy chắc chắn góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

den tranĐền Trần (陳廟 - Trần Miếu) là một quần thể đền thờ tại đường Trần Thừa, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định (sát quốc lộ 10), là nơi thờ các vua nhà Trần cùng các quan lại có công phù tá nhà Trần. Đền Trần được xây dựng từ năm 1695, trên nền Thái miếu cũ của nhà Trần đã bị quân Minh phá hủy vào thế kỷ 15.

Đền Trần bao gồm 3 công trình kiến trúc chính là đền Thiên Trường (hay đền Thượng), đền Cố Trạch (hay đền Hạ) và đền Trùng Hoa. Trước khi vào đền, phải qua hệ thống cổng ngũ môn. Trên cổng ghi các chữ Hán Chính nam môn (正南門 - cổng chính phía nam) và Trần Miếu (陳廟 - Miếu thờ nhà Trần). Qua cổng là một hồ nước hình chữ nhật. Chính giữa phía sau hồ nước là khu đền Thiền Trường. Phía Tây đền Thiên Trường là đền Trùng Hoa, phía Đông là đền Cố Trạch.

Cả ba đền đều có kiến trúc chung, và quy mô ngang nhau. Mỗi đền gồm tòa tiền đường 5 gian, tòa trung đường 5 gian và tòa chính tẩm 3 gian. Nối tiền đường và trung đường là kinh đàn (thiêu hương) và 2 gian tả hữu.


Hàng năm lễ hội đền Trần được tổ chức vào tháng Tám  Âm lịch, lễ hội diễn ra từ ngày 1/8 cho đến hết tháng. Đầu năm đền Trần tổ chức lễ Khai ấn đầu năm, thường vào mùng 7 hoặc mùng 8 sau Tết, lễ hội đền Trần là lễ hội lớn thu hút khách thập phương về dự, những ngày này đền Trần luôn tấp nập các du khách về dự lễ hội. 


Trước kia do giao thông còn lạc hậu, việc viếng thăm đền Trần khá khó khăn, tuy nhiên ngày nay trục đường cao tốc đã chạy qua trước cửa đền do đó các phương tiện dễ dàng di chuyển tạo điều kiện thuận lợi cho du khách gần xa.

Author Name

Contact Form

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.